BÁC HỒ VỚI VIỆC XÂY DỰNG NỀN PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Hằng năm, cứ đến những ngày tháng 5 lịch sử, chúng ta lại nhớ tới Bác Hồ, nhớ tới những công lao to lớn mà người đã để lại cho đất nước Việt Nam. Trong số những thành tựu quý báu ấy, không thể không kể đến giá trị quan điểm lập pháp, cũng như bản Hiến pháp năm 1946 do Người làm Trưởng ban soạn thảo. Hiến pháp năm 1946 đã thể hiện vô cùng sâu sắc tư tưởng pháp quyền, tinh thần thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trong việc xây dựng Nhà nước kiểu mới ở nước ta.
Theo Hồ Chủ tịch, pháp luật của Nhà nước ta phải là pháp luật thật sự dân chủ và nó phải bảo vệ quyền dân chủ tự do rộng rãi cho nhân dân lao động. Bản chất dân chủ của pháp luật kiểu mới là hệ thống pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp công nhân, bảo vệ quyền tự do dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động.
Người đã khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam”. Quyền lực nhà nước là quyền lực của nhân dân, do nhân dân ủy thác. Nhân dân có quyền bầu ra các đại biểu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân và có quyền bãi miễn những đại biểu ấy, nếu họ tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân. Nguyên tắc ấy bảo đảm quyền kiểm soát của nhân dân đối với đại biểu của mình. Và Bác cũng chỉ ra, Nhà nước hợp hiến, hợp pháp, quản lý xã hội bằng pháp luật phải đi đôi với kết hợp với giáo dục đạo đức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố Hiến pháp năm 1959.
Nét đặc sắc khác trong tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa pháp luật và đạo đức trong quản lý nhà nước và xã hội. Là người theo lập trường mácxít về Nhà nước và pháp luật, hiển nhiên Chủ tịch Hồ Chí Minh phải đề cao pháp luật. Tư tưởng và hành động của Người đã chứng minh điều ấy. Tuy nhiên dưới lập trường là một người Á Đông, vốn sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, thấu hiểu tư tưởng Nho giáo cũng như bản chất và những giới hạn vốn có của pháp trị, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không tuyệt đối hoá một trong hai công cụ quản lý nhà nước ấy. Theo Người, đạo đức là gốc của pháp luật, còn pháp luật chính là đạo đức chuẩn mực trong xã hội. Đạo đức và pháp luật là hai thành tố quan trọng, có mối quan hệ biện chứng với nhau: Pháp luật là “đạo đức tối thiểu”, đạo đức là “pháp luật tối đa”. Một hệ thống pháp luật hoàn thiện cần được xây dựng trên nền tảng đạo đức cụ thể, ngược lại, pháp luật chính là công cụ, biện pháp để xã hội thực hành các chuẩn mực đạo đức. Đạo đức là cơ sở ban đầu, phương tiện hữu hiệu để pháp luật được thi hành một cách tự giác, nghiêm minh; là “khuôn mẫu” điều chỉnh hành vi khi xã hội loài người phát triển đến trình độ nhất định.
Từ năm 1919, trong “Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi Hội nghị Véc-xay, Người đã phê phán mạnh mẽ, toàn diện chế độ cai trị thuộc địa, chế độ nhà nước, pháp luật tư sản, qua đó yêu cầu “cải cách nền pháp lý Đông Dương,... thay thế chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật”, đến việc kiên trì giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, nhân dân, nỗ lực xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập. Sự kết hợp này không mang tính rập khuôn, máy móc mà hết sức linh hoạt, cụ thể. Chính vì vậy, cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là tấm gương sáng ngời về tinh thần đề cao, tôn trọng pháp luật song song với việc kiên trì và bền bỉ trau dồi, rèn luyện đạo đức cách mạng.
Có thể nói, kết hợp đức trị với pháp trị trên cơ sở những bài học lịch sử của dân tộc và lập trường tiến bộ của nhân loại, chính là những lời dạy vô cùng quý giá mà Bác Hồ đã để lại cho chúng ta.
Minh Nguyệt